Thông tin mã vạch - Công nghệ mã vạch EAN-13 và ứng dụng mã vạch ở Việt Nam

1. Đặt vấn đề

Ngày nay công nghệ nhận dạng tự động ngày càng phát triển và đem lại hiệu quả ứng dụng cao. Và mã vạch là một trong những công nghệ nhận dạng được ứng dụng rộng rãi với rất nhiều ưu điểm. 

Trong vòng từ vài chục năm trở lại đây, mã vạch được ứng dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp bán lẻ cũng như siêu thị lớn và các chuỗi cửa hàng, với mục đích giảm chi phí, tăng hiệu quả và năng suất lao động. Với những ưu điểm đó thì việc áp dụng công nghệ mã vạch là một hướng đi mới cho các Doanh nghiệp ở nước ta hiện nay.

2. Giới thiệu về công nghệ mã vạch(Barcode) và phân loại.

2.1 Lịch sử sự phát triển công nghệ mã vạch(Barcode).

- Việc nghiên cứu phát minh ra mã vạch bắt đầu từ nước Mỹ. Ý tưởng về mã vạch được phát triển bởi Norman Joseph Woodland và Bernard Silver.

- Thiết bị đọc mã vạch đầu tiên được thiết kế và xây dựng bởi Woodland (khi đó đang làm việc cho IBM) và Silver năm 1952. Thiết bị này đã không được áp dụng trong thực tế

- Năm 1970, Uỷ ban thực phẩm Mỹ là cơ quan đầu tiên ứng dụng vào bán hàng hoá thực phẩm đã đưa máy quét và máy thu tiền kết hợp

- Năm 1972, cửa hàng Kroger ở Cincinnati thử nghiệm việc sử dụng đầu đọc mã vạch điểm đen, với sự trợ giúp của RCA.

- Năm 1973, Hiệp hội công nghiệp tạp hoá thực phẩm Mỹ thống nhật thành lập hiệp hội UCC (Uniform Code Council) bao gồm hệ thống các nhà quản lý mã số - mã vạch của các cơ sở sản xuất, kinh doanh và quản lý thông tin.

- Năm 1974, các nhà sản xuất và cung cấp của 12 nước châu Âu đã thành lập một hội đồng đặc biệt để nghiên cứu khả năng áp dụng hệ thống mã số vật phẩm tiêu chuẩn và thống nhất cho châu Âu, tương tự như UPC của Mỹ.

- Tháng 2.1977, Hội EAN chính thức được thành lập.

- Từ năm 2005, EAN International đã đổi tên thành GS1.

2.2. Phân loại mã (Barcode)

- Các mã vạch tuyến tính như UPC(bán lẻ ở Mỹ); EAN-UCC(bán lẻ khắp thế giới); Code 39; code 93...

- Mã vạch 2D như 3-DI(phát triển bởi Lynn Ltd); Code 1(phạm vi công cộng); Datamatrix(từ RVSI Acuity CiMatrix. Hiện nay thuộc phạm vi công cộng)...

3. Các loại mã vạch thông dụng

Trong mấy chục năm phát triển, người ta đã phát minh ra nhiều loại mã vạch khác nhau, mỗi loại mã vạch có một đặc điểm riêng nên thường được áp dụng trong một lĩnh vực nhất định.

Trong khuân khổ bài này tôi xin giới thiệu về mã vạch EAN-13.


3.1.1.Giới thiệu

EAN-13 hay EAN.UCC-13 hoặc DUN-13 trước đây thuộc quyền quản lí của hệ thống mã số sản phẩm Châu Âu (The European Article Numbering system, viết tắt là EAN), ngày nay thuộc quyền quản lí của EAN-UCC.

3.1.2. Cấu trúc

v  Mã số EAN-13 là 1 dãy số gồm 13 chữ số nguyên (từ số 0 đến số 9), trong dãy số chia làm 4 nhóm, mỗi nhóm có ý nghĩa như sau:

- Nhóm 1: Từ trái sang phải, hai hoặc ba chữ số đầu là mã số về quốc gia (vùng lãnh thổ)

- Nhóm 2: Tiếp theo gồm bốn, năm hoặc sáu chữ số là mã số về doanh nghiệp.

- Nhóm 3: Tiếp theo gồm năm, bốn hoặc ba chữ số là mã số về hàng hóa.

- Nhóm 4: Số cuối cùng (bên phải) là số kiểm tra

 

 

 

 

 

 

Để đảm bảo tính thống nhất của mã số:

- Mỗi quốc gia phải do tổ chức mã số vật phẩm quốc tế (EAN International) cấp cho các quốc gia thành viên của tổ chức này. Mã quốc gia của Việt Nam là 893.

- Mã doanh nghiệp (mã M) do tổ chức mã số mã vạch vật phẩm quốc gia cấp cho các nhà sản xuất là thành viên của họ. Ở Việt Nam. mã doanh nghiệp do EAN-VN cấp cho các doanh nghiệp thành viên của mình.

- Mã mặt hàng (mã I) do nhà sản xuất qui định cho hàng hoá của mình. Nhà sản xuất phải đảm bảo mỗi mặt hàng chỉ có một mã số, không được có bất kỳ sự nhầm lẫn nào.

- Số kiểm tra (C) là một con số được tính dựa vào 12 con số trước đó, dùng để kiểm tra việc ghi đúng những con số nói trên.

Từ năm 1995 đến tháng 3/1998, EAN-VN cấp mã M gồm 4 con số. Theo yêu cầu của EAN Quốc tế, EAN-VN bắt đầu cấp mã M gồm 5 con số. Vì vậy, hiện nay mã EAN-13 của doanh nghiệp Việt Nam có hai dạng như sau:

Đối với các doanh nghiệp được cấp mã M gồm 4 con số:

893

4565

11001

C

Mã quốc gia

Mã doanh nghiệp

(Mã M)

Mã mặt hàng

(Mã I)

Số kiểm tra

Đối với các doanh nghiệp được cấp mã M gồm 5 con số:

893

50122

0101

C

Mã quốc gia

Mã doanh nghiệp (Mã M)

Mã mặt hàng

(Mã I)

Số kiểm tra

v  VD về EAN-13:

 

3.1.3. Một số mã vạch các nước là thành viên của Tổ chức mã vạch quốc tế EAN

893: Việt Nam; 471: Taiwan; 690-692:China; 520: Greece; 30-37:France; 899:Indonesia...

3.1.4. Đặc điểm về cấu tạo

Cấu tạo chung của mã EAN-13 gồm các vạch và các khoảng trống.
Ngoài các vạch tương ứng với 13 con số, vùng mã EAN-13 còn có thêm: vùng trống, ký tự bắt đầu, ký tự phân cách và kí tự kết thúc.

v  Mỗi vùng trống rộng 9 module (000000000)

v  Ký tự bắt đầu và kết thúc lần lượt gồm: vạch/khoảng trống/vạch (101)

v  Ký tự phân cách lần lượt gồm: khoảng trống/vạch/khoảng trống/vạch/khoảng trống (01010).

Trong đó ‘0’ tương ứng với một khoảng trống và ‘1’ tương ứng với một vạch.

Dãy 12 số (trừ ký tự kiểm tra) của EAN13 được chia thành 2 phần: phần bên trái và phần bên phải. Mỗi số ở phần bên trái bắt đầu bằng khoảng trống còn mỗi số ở phần bên phải bắt đầu bằng một vạch.

Số

Số thuộc phần trái

Số thuộc phần phải

Vị trí chẵn

Vị trí lẻ

0

0001101

0100111

1110010

1

0011001

0110011

1100110

2

0010011

0011011

1101100

3

0111101

0100001

1000010

4

0100011

0011101

1011100

5

0110001

0111001

1001110

6

0101111

0000101

1010000

7

0111011

0010001

1000100

8

0110111

0001001

1001000

9

0001011

0010111

1110100

Trong bảng trên ký hiệu ‘1’ thể hiện cho vạch còn ký hiệu ‘0’ thể hiện cho khoảng trống.

Mỗi số ở phần bên trái được tính dựa vào số thứ nhất, sau đây là bảng căn cứ.

Giá trị

0

1

2

3

4

5

6

7

8

9

Chẵn/lẻ

000000

001011

001101

001110

010011

011001

011100

010101

010110

011010

Trong bảng trên số 0 tương với chẵn và 1 tương ứng với lẻ. Như vậy nếu số đầu tiên của dãy EAN mang giá trị 6 thì các nửa đầu tiên sẽ được biểu diễn theo CLLLCC tức là: số thứ nhất sẽ được biểu diễn theo cột chẵn, số thứ 2, 3, 4 được biểu diễn bằng số lẻ và số thứ 5, 6 được biểu diễn theo số chẵn.

3.1.5. Cách tính số kiểm tra cho mã EAN 13

v Số kiểm tra là số thứ 13 của EAN-13. Nó không phải là một số tùy ý mà phụ thuộc vào 12 số đứng trước đó và được tính theo quy tắc sau:

Bước 1: Lấy tổng tất cả các số ở vị trí lẻ (1, 3, 5, 7, 9, 11) được một số A.

Bước 2: Lấy tổng tất cả các số ở vị trí chẵn (2, 4, 6, 8, 10, 12). Tổng này nhân với 3 được một số (B).

Bước 3: Lấy tổng của A và B được số A+B.

Bước 4: Lấy phần dư trong phép chia của A+B cho 10, gọi là số x. Nếu số dư này bằng 0 thì số kiểm tra bằng 0, nếu nó khác 0 thì số kiểm tra là phần bù (10-x) của số dư đó.

Số kiểm tra được thêm vào cuối chuỗi số có 12 chữ số ban đầu tạo ra chuỗi số EAN-13 có 13 chữ số. Tuy nhiên, trong thực tế sản xuất mã vạch, số này đã được thêm vào cuối chuỗi, nhưng các phần mềm in ấn mã vạch nên có phần kiểm tra lại số này trước khi in, nhằm tránh các sai lầm do sai sót dữ liệu.

v  Ví dụ :

Tính số kiểm tra cho mã số 893456501001 C

Trong đó:

Mã quốc gia: 893

Mã doanh nghiệp: 4565

Mã mặt hàng: 01001

Số kiểm tra: C

  • Bước 1: 1 + 0 + 0 + 6 + 4 + 9  = 20
  • Bước 2: 20 x 3 = 60
  • Bước 3: 8 + 3 + 5 + 5 + 1 + 0  = 22
  • Bước 4: 60 + 22  = 82
  • Bước 5: 82 mod 10 = 2  à C=8

Mã EAN 13 hoàn chỉnh sẽ là: 8934565010018

3.1.6. Kích thước

Toàn bộ khu vực mã vạch EAN-13 tiêu chuẩn có chiều dài 37,29mm và chiều cao là 25,93mm.Độ phóng đại của mã vạch EAN-13 và EAN-8 nằm trong khoảng từ 0,8 đến 2,0.

Độ phóng đại M

EAN-13

Chiều rộng, mm

Chiều cao, mm

0,80

29,83

20,74

0,90

33,56

23,34

1,00

37,29

25,93

1,10

41,02

28,52

1,20

44,75

31,12

1,50

55,94

38,90

1,70

63,39

44,08

2,00

74,58

51,86

Bảng kích thước mã EAN-13 với độ phóng đại M

4. Công nghệ mã số vạch ở Việt Nam

4.1. KHÁI QUÁT

Năm 1995, thấy rõ lợi ích của công nghệ mã số mã vạch, đồng thời để đáp ứng nhu cầu của một số doanh nghiệp cần sử dụng mã số mã vạch trên sản phẩm xuất khẩu theo yêu cầu của bạn hàng nước ngoài, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) đã đề nghị và Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý cho phép Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng tham gia EAN quốc tế.

Tính đến nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành 10 tiêu chuẩn Việt Nam về mã số mã vạch trên cơ sở chấp nhận các tiêu chuẩn của EAN quốc tế và đã cấp mã số cho hơn 1600 doanh nghiệp thuộc nhiều ngành khác nhau. Các doanh nghiệp này đã sử dụng mã số EAN trên hàng vạn sản phẩm để bán trong nước và xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới.

4.2. ĐẶC ĐIỂM

- Mã số của Việt Nam là 893.

- Mã doanh nghiệp của VN sẽ do EAN-VN cấp.

- Mã mặt hàng (mã I) do nhà sản xuất qui định cho hàng hoá của mình. Nhà sản xuất phải đảm bảo mỗi mặt hàng chỉ có một mã số, không được có bất kỳ sự nhầm lẫn nào.

- Số kiểm tra C là một con số được tính dựa vào 12 con số trước đó, dùng để kiểm tra việc ghi đúng những con số nói trên.

Hiện nay, tại Việt Nam có 3 nơi để liên hệ xin cấp mã số mã vạch: Hà Nội ; Đà Nẵng ; TP. Hồ Chí Minh

Mức thu phí cấp mã số mã vạch được quy định cụ thể như sau:
Lệ phí đăng ký thực hiện theo Thông tư số 88/2002/TT-BTC của Bộ tài chánh về việc Quy định chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng phí cấp mã số mã vạch.

- Phí cấp và hướng dẫn sử dụng mã số, mã vạch: 1.000.000đồng/1 lần (một triệu đồng/1 lần).

- Phí duy trì sử dụng mã số, mã vạch: 500.000đồng/1 năm (năm trăm ngàn đồng/1 năm).

4.3. HẠN CHẾ

Tuy nhiên, việc ứng dụng và quản lý công nghệ mã số mã vạch ở nước ta còn có những tồn tại sau đây:

- Việc ứng dụng công nghệ mã số mã vạch mới chỉ dừng ở việc cấp mã số doanh nghiệp, hướng dẫn doanh nghiệp in ấn số mã vạch trên sản phẩm, hàng hóa để phục vụ bán hang.

- Chưa triển khai ứng dụng các loại mã số mã vạch trên các đơn vị giao nhận, vận chuyển, trong trao đổi dữ liệu điện tử (EDI- Electronic Data Interchange) và phân định các bên đối tác trong giao dịch sản xuất, kinh doanh (chuỗi cung cấp).

- Số lượng các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ mã số mã vạch chiếm tỷ lệ thấp, số lượng hàng hoá của Việt Nam sử dụng mã số mã vạch chưa nhiều.

- Chưa có biện pháp hữu hiệu để đẩy mạnh việc nghiên cứu và triển khai ứng dụng rộng rãi mã số mã vạch trong lĩnh vực khác của nền kinh tế quốc dân cũng như các ngành dịch vụ và văn hoá xã hội.

- Việc ứng dụng công nghệ mã số mã vạch chậm, chưa có nhiều hiệu quả. Việc ứng dụng đôi khi tự phát, tản mạn, chưa có sự hướng dẫn về công nghệ và kỹ thuật của cơ quan quản lý nhà nước nên đôi khi các doanh nghiệp đã nhập phải các thiết bị in đọc và phần mềm mã số mã vạch lạc hậu so với các tiêu chuẩn quốc tế hiện hành.

4.4. GIẢI PHÁP

Để tăng cường hiệu lực quản lý và đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ mã số mã vạch ở Việt Nam phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và hội nhập với nền kinh tế xã hội và hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, ngày 27/3/2002 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 45/2002/QĐ- TTg quy định nội dung quản lý nhà nước về mã số mã vạch.

Trong đó có việc quản lý ngân hàng mã số quốc gia, cấp mã số cho các doanh nghiệp, thực hiện hợp tác quốc tế về Mã số mã vạch, và giao Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động mã số mã vạch trên phạm vi cả nước.

ĐỐI TÁC CỦA DELFI